THIỀU KIM TRỌNG BLOG

Hiển thị các bài đăng có nhãn marketing. Hiển thị tất cả bài đăng

Xem những quảng cáo cực 'độc' tại Việt Nam trước 1975

"Những mẩu quảng cáo, phương pháp tiếp thị cực độc và lạ ở Việt Nam xưa…

Hãy cùng ngược dòng thời gian và tìm hiểu trước năm 1975, hình hài của quảng cáo Việt Nam trông ra sao…

Thời kỳ Pháp thuộc (1884 – 1945)
Dưới thời kỳ Pháp thuộc, quảng cáo phát triển do sự ảnh hưởng và truyền bá lối sống tiêu dùng của người Pháp vào Việt Nam. Khắp từ trong Nam, ngoài Bắc, người ta dễ dàng bắt gặp những tấm áp-phích quảng cáo dán trên đường phố hay những cậu bé đeo biển quảng cáo (gọi là sandwich man). Trên đây là hình quảng cáo của Tuần báo Đàn bà có trụ sở ở Hà Nội với phong cách “giật tít” vô cùng độc đáo và hiệu quả.


 

Đây là một quảng cáo vô cùng thú vị của nhà thuốc Kim Hưng về sản phẩm thuốc trị hôi nách. Với cách thể hiện như một cuộc trò chuyện giữa hai vợ chồng sử dụng văn vần hài hước, quảng cáo này tạo nên sự gần gũi và thu hút đối với mọi độc giả.




Tới đầu thế kỷ XX, với sự ra đời của nhiều tờ báo như “Đông Dương tạp chí”, “Nam Phong”, “Thực nghiệp”, số lượng quảng cáo in ở Hà Nội tăng lên chóng mặt. Từ may quần áo, dạy thêm, chiếu phim… tất cả đều được đăng thành quảng cáo trên báo chí. 

Một trong số đó là quảng cáo đèn dầu Phoebus rất nổi tiếng được đăng trên tờ Phong Hóa “Đèn Phoebus. Vừa là đèn thắp sáng tới 300 bougies (ngọn nến), vừa là đèn để đun nấu. Lại có thể chế thành đèn sưởi được. Thắp bằng dầu hỏa (Petrole), nếu thiếu dầu hỏa dùng toàn dầu xăng (Essence) càng hay. Đến cả dùng dầu hỏa và dầu xăng pha với nhau cũng được”.


Áp-phích quảng cáo của cửa hàng đồ cổ La Perle (Trân Châu) trên đường Borgnis Desbordes (nay là đường Tràng Thi). Quảng cáo ghi rõ những mặt hàng kinh doanh của cửa hàng như tượng Phật, lồng đèn, tranh ảnh, đồ sành sứ, ngọc trai…



Tập đoàn Shell cũng đã có mặt rất sớm ở Việt Nam. Trụ sở Đông Dương của hãng tọa lạc ở phố Khâm Thiên, Hà Nội. Với chiến lược quảng cáo rộng rãi của mình, hình ảnh của hãng quen thuộc tới nỗi người dân Hà Nội khi đó đã gọi nơi có trụ sở công ty là phố Nhà Dầu.



Tương tự như ở miền Bắc, quảng cáo phát triển rất mạnh và sớm ở các tỉnh phía Nam. Trên đây là quảng cáo một buổi hòa nhạc giới thiệu hai ngôi sao mới nổi là Carol và Uyên Phương. Buổi biểu diễn được tổ chức ở một trong 5 phòng trà danh tiếng nhất Sài Thành: Tự Do.



Tấm áp-phích quảng cáo đơn giản mà đánh thẳng vào tâm lý người tiêu dùng của hãng giày Ba-ta. Vào thời điểm đó, từ Bắc chí Nam, đâu đâu cũng có thể bắt gặp hình ảnh những người lao động và tầng lớp trung lưu làm bạn với giày Ba-ta. 

Tuy nhiên, sau năm 1954, nhà máy sản xuất giày Ba-ta ở Việt Nam đã bị chuyển sang nước châu Á khác.


  
Mặc dù là một mặt hàng xa xỉ nhưng từ rất sớm, các hãng xe hơi đã tìm cách quảng cáo bán hàng cho người Pháp ở thuộc địa hay những trọc phú Sài Thành. Đây là mẫu quảng cáo xe hơi 15 CV Delahaye của đại lý Société Indochinoise de Transports, số 4 đường Filippini (nay là đường Nguyễn Trung Trực).

Thời kỳ 1945 - 1975


Ở miền Nam, sau năm 1954, quảng cáo cực kì phát triển như nấm sau mưa. 


 
Trong lĩnh vực nước giải khát, người Sài Gòn chắc hẳn không thể quên được cái tên BGI đã từng bá chủ ở Đông Dương. Từ năm 1952, công ty này cho xây dựng nhà máy bia Chợ Lớn và Usine Belgique, tạo ra sản phẩm “Bia 33” nổi tiếng xuất đi khắp nơi với biệt danh “Một loại bia 5 châu lục”.


Bia Con cọp - tiền thân của Bia Tiger ngày nay cũng là một sản phẩm có tiếng của BGI ở Sài Gòn xưa. 


Đối với các chị em, những sản phẩm nước hoa, sữa tắm, xà phòng nổi tiếng như Xà phòng Cô-Ba đã từng chiếm trọn trái tim họ. Trên mỗi sản phẩm của hãng này, nhà sản xuất đều cho in nổi hình một người phụ nữ búi tóc kiểu miền Nam, gọi là Cô Ba. 

Nhãn hàng này thuộc về ông Trương Văn Bền (1883 - 1956) và thậm chí có thời điểm, nhãn hiệu của ông còn cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại nhập khẩu từ nước ngoài.


  
Đây là quảng cáo của một thương hiệu xà phòng uy tín khác. Đó là xà phòng “Con dê cũ” của hãng Tân Phúc Hoa.


  
Ngay cả tới mặt hàng như quan tài cũng có cách quảng cáo rất độc đáo. Để bán được hàng, ông chủ hãng quan tài TOBIA đã đánh đúng vào tâm lý “người Việt dùng hàng Việt” với slogan “Ta về ta tắm ao ta, dầu là đục ao nhà cũng hơn”.


  
Quảng cáo kem đánh răng Hynos với biểu tượng là nhân vật “Bảy Chà Và đen” (tức một người đàn ông da đen tới từ Java) có hàm răng trắng muốt in trên mỗi sản phẩm. 

Vương Đạo Nghĩa - chủ nhân của thương hiệu này hy vọng hình ảnh anh chàng da đen sẽ làm nổi bật hàm răng trắng và sẽ đem lại hiệu quả quảng cáo hơn cho nhãn hàng. Thậm chí, ông này còn từng mời tài tử Hồng Kông khi ấy là Vương Vũ về Việt Nam chỉ để đóng quảng cáo.


Thậm chí, có lần, hãng kem đánh răng này đã quảng cáo bằng thơ. Sau 1975, hãng này được bàn giao và sáp nhập với công ty Kolperlon thành Xí nghiệp Kem đánh răng Phong Lan rồi đổi tên thành Công ty Hóa phẩm P/S.

Nguồn: cafebiz.vn/quang-cao-thuong-hieu/xem-nhung-quang-cao-cuc-doc-tai-viet-nam-truoc-1975-201408081704272301.chn
Đọc tiếp »

Facebook Cập Nhật Cách Thức Tính CPC (Cost Per Click)

Vào ngày 8/7/2015 Facebook đã đưa ra API mới và theo đó là cập nhật về cách thức tính tiền khi chạy quảng cáo Cost Per Click (CPC) trên facebook. 


Facebook Cập Nhật Cách Thức Tính CPC (Cost Per Click)
Facebook Cost Per Click Update
Giờ đây khi chạy quảng cáo CPC trên Facebook Ads, bạn chỉ phải trả phí cho những người “click vào website”, và không bị tính phí khi người dùng click like, hay comment, share, read more. Điều này sẽ giúp ích rất nhiều cho những nhà quảng cáo có thể đo lường chính xác hơn đến đối tượng và mục tiêu chúng ta nhắm tới và quan trọng hơn cả là chi phí quảng cáo sẽ tốt hơn.

Trích lời facebook:

we’re updating the definition of cost per click (CPC) on Facebook to only include clicks to websites and apps, and not likes, shares and comments.

Định nghĩa về CPC sẽ được thay đổi. Giờ đây CPC vào link sẽ được Facebook gọi là “Link Click” tách biệt ra với những CPC khác như like, comment, share, read more. Cụ thể “Link Click” sẽ liên quan đến những đối tượng sau: 

- Click vào một website khác

- Click call-to-action vào một website khác (“Shop now”, “Mua ngay”, …)

- Click để cài đặt ứng dụng

- Click vào Facebook canvas apps

- Click để xem video trên website khác

Hiện chính sách mới sẽ được áp dụng cho nhà quảng cáo mua QC qua API hay qua Facebook Partner, những bạn chạy quảng cáo qua Ads Manager sẽ phải chờ đến tuần sau. Facebook sẽ có thêm thông tin để hướng dẫn cho các nhà quảng cáo sử dụng theo chính sách mới này. 

Lời kết: thay đổi này của Facebook sẽ làm hài lòng rất nhiều người chạy QC và tăng độ hiệu quả của quảng cáo. Các bạn nên chú ý theo dõi để có thể tận dụng được điều này :).

Nguồn: http://appnet.edu.vn/facebook-cap-nhat-cach-thuc-tinh-cpc-cost-per-click 
Đọc tiếp »

Ưu và nhược điểm của một số phương tiện quảng cáo

Ưu và nhược điểm của một số phương tiện quảng cáo (báo chí, tạp chí, truyền thanh, truyền hình, quảng cáo ngoài trời, thư trực tiếp, internet, tờ rơi...).
Ưu và nhược điểm của một số phương tiện quảng cáo khuyến mãi

Đọc tiếp »

Ebook B2B Marketing – Tiếp thị giữa các tổ chức

Ebook B2B Marketing – Tiếp thị giữa các tổ chức
GIỚI THIỆU:
Thuật ngữ “ B2B Marketing – Tiếp thị giữa các tổ chức” là khái niệm chuyển tải từ  thuật ngữ Business to Business Marketing. Hiện nay trong các khoa Quản Trị Kinh Doanh hay Marketing của các trường đại học ở Việt Nam, thuật ngữ này vẫn được dịch là tiếp thị công nghiệp. Thực tế về tên gọi của môn học/ hay ngành này trên thế giới đã có sự  thay đổi khá lớn từ khi xuất hiện. Đầu tiên là thuật ngữ “Industrial Marketing” (tiếp thị công nghiệp) là dùng để chỉ việc/ quá trình tiếp thị các sản phẩm mang tính chất công nghiệp như các hệ thống máy móc/trang thiết bị phục vụ sản xuất công nghiệp. Sau đó, vào thập niên 70, 80, 90 khoa học tiệp thị đã có những thay đổi khá lớn. Về tên gọi, rất nhiều giáo trình (text book), tạp chí, tổ chức chuyên ngành đã đổi tên từ ” Industrial Marketing” thành “Business to Business Marketing” hay đơn giản là “Business Marketing”. Sự thay đổi tên cho thấy triết lý tiếp thị căn bản đã thay đổi. Ở đây không còn bó hẹp trong các sản phẩm hay khách hàng công nghiệp (industrial) mà mở rộng ra cho tất cả các khách hàng tổ chức/ kinh doanh (các business). Vì vậy trong cuốn sách này chúng tôi mạnh dạn sử  dụng thuật ngữ “ B2B Marketing – Tiếp thị giữa các tổ chức” để thay thế cho thuật ngữ  “tiếp thị công nghiệp” đã được sữ dụng từ lâu.
Đọc tiếp »

Chu kỳ sống/ vòng đời của sản phẩm

Chu kỳ sống của sản phẩm : bao gồm 4 giai đoạn


a/ Giai đoạn giới thiệu :
Trong giai đoạn này, nhà sản xuất cần phải bỏ ra rất nhiều chi phí để giới thiệu, quảng cáo về sản phẩm.
Để thâm nhập vào thị trường, công ty cần phải tổ chức cho được một hệ thống tiêu thụ rộng khắp qua các cấp trung gian khác nhau rồi mới đến các người bán lẻ.
Khi mới thâm nhập vào thị trường, giá của sản phẩm nên được định thấp hơn giá của các sản phẩm cùng loại trên thị trường để thu hút khách hàng nhằm tăng nhanh doanh số, mở rộng thị phần.
Ngoài ra, nhà sản xuất cũng cần phải hoàn thiện hơn nữa sản phẩm của mình, nhằm tạo thêm niềm tin, cảm tình của khách hàng để có được chổ đứng lâu dài trên thị trường.
Trong suốt giai đoạn giới thiệu, việc định giá có thể là một công việc hơi khó khăn, đặc biệt là khi công ty đang tạm thời có được thế độc quyền. Trong trường hợp này, công ty không có đối thủ cạnh tranh trực tiếp nên không có điểm chuẩn cho mức giá mà khách hàng có thể trả, cũng như cho sự nhạy cảm của khách hàng trước sự chênh lệch về giá. Tuy nhiên, công ty có thể sử dụng giá sản phẩm thay thế của các đối thủ cạnh tranh gián tiếp làm điểm khởi đầu để ra quyết định về giá.
Quay trở lại phương trình tổng giá trị kinh tế. Tại đó, giá của phương án tốt nhất được nhận biết nhưng giá trị chênh lệch hiệu suất của sản phẩm mới lại không được nhận biết. Khách hàng có thể gặp khó khăn trong việc ước lượng giá trị một sản phẩm mới mẻ và khác biệt. Khách hàng cũng thiếu điểm chuẩn giá trị. Trong những trường hợp như vậy, công ty có thể dùng đến một trong những chiến lược sau:
+ “Hớt váng”. Một số khách hàng sẵn lòng trả tiền cho bất cứ thứ gì mới và độc đáo. Chiến lược này chỉ là ngắn hạn và chứa đựng một số mối nguy hiểm như đã trình bày ở phần trước.
+ Định giá thâm nhập. Giá thấp có thể mang lại những lợi ích sau: (1) giúp công ty đứng đầu về thị phần, (2) ngăn cản sự tham gia vào thị trường của đối thủ cạnh tranh, và (3) tạo nhu cầu trên diện rộng đối với sản phẩm.
+ Cộng thêm vào chi phí. Khi ở thế độc quyền, nhà sản xuất có thể quản lý giá của mình. Cộng thêm vào chi phí là một cách xác định mức giá đó. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng thế độc quyền của sản phẩm chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.
Các quyết định về giá trong giai đoạn giới thiệu không chỉ khó khăn mà còn rất quan trọng. Đặt giá quá cao cho một sản phẩm mới giới thiệu có thể giết chết sản phẩm đó, làm tổn hại đến công việc của nhiều nhân viên trong một thời kỳ phát triển dài.
b/ Giai đoạn tăng trưởng :
Đây là giai đoạn mà sản phẩm của Công ty đã có được lòng tin của khách hàng và số lượng hàng hoá bán ra ngày càng lớn đã làm giảm đáng kể chío phí và giá thành sản phẩm vì vậy, doanh thu và lợi nhuân tăng ca, thị phần ngày càng phát triển.
Mục tiêu cơ bản của giai đoạn này là xâm nhập vào những thị trường mới hay len lỏi vào những đoạn mới của những thị trường đã có. Đồng thời không ngừng cũng cố và hoàn thiện chất lượng cũng như tính năng của sản phẩm đã được khách hàng chấp nhận.
Giá cả ở giai đoạn này có thể vẫn giữ ở mức cũ hoặc có thể áp dụng các biện pháp khuyến mãi nếu như công ty đã đạt được doanh số và lợi nhuận cao và bù đắp được cho chi phí của giai đoạn trước.
Đặc trưng của giai đoạn phát triển được thể hiện qua doanh số bán theo đơn vị sản phẩm ngày càng tăng và thôi thúc sự quan tâm của khách hàng. Trong giai đoạn này, công ty nên định giá như thế nào? Nếu các đối thủ cạnh tranh chưa xuất hiện (điều hiếm khi xảy ra) thì định giá “hớt váng” là phù hợp. Nhưng đối tượng khách hàng của định giá “hớt váng” rất hẹp. Đã đến lúc công ty phải giảm giá dần, tiếp cận các phân khúc thị trường khác nhạy cảm về giá hơn.
Một nhà sản xuất có được vị trí hàng đầu trên đường cong kinh nghiệm cũng sẽ muốn giảm giá dần trong giai đoạn này. Chiến lược này sẽ duy trì lợi nhuận doanh số bán theo đơn vị sản phẩm và ngăn cản các đối thủ nhập cuộc sau. Một số đối thủ sẽ bị lỗ hoặc thua cuộc.
c/ Giai đoạn chín muồi  ( bão hòa ):
Là giai đoạn mà khối lượng hàng hóa bán ra đã lên đến đỉnh điểm và không thể tăng cao hơn nữa, bắt đầu có hiện tượng ứ động ở các kênh phân phối, doanh thu giảm dần.
Ở giai đoạn này , công ty cần phải hạ giá bán sản phẩm đến mức tối đa để có thể đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa còn tồn động.
Ngoài ra, cần phải cải tiến chất lượng sản phẩm và bao bì hoặc nhãn hiệu nhằm vực dậy uy tín của sản phẩm, tăng cường khâu quảng cáo và các khâu dịch vụ hơn nữa.
Vào giai đoạn chín muồi, sự tăng trưởng doanh số bán theo đơn vị sản phẩm đang chững lại và các đối thủ cạnh tranh còn lại đang cố tìm cách làm cho sản phẩm của họ trở nên khác biệt. Trong suốt giai đoạn này, người bán cung cấp những phiên bản khác nhau của sản phẩm, mỗi phiên bản đều cố chiếm giữ một phân khúc thị trường được nhắm đến. Giá là một trong những yếu tố được dùng trong chiến lược này (ví dụ: bằng cách phát triển và định giá các phiên bản tốt, tốt hơn và tốt nhất để mở rộng dòng sản phẩm).
d/ Giai đoạn suy thái :
Giai đoạn này là giai đoạn lượng hàng hóa bán ra bị giản sút nghiêm trọng, doanh số, thị phần và lợi nhuận đều bị giảm mạnh và có nguy cơ dẫn đến phá sản. Lúc này công ty cần phải mạnh dạn quyết định ngưng sản xuất ngay mặt hàng này và có kế hoạch từng bước tung ra sản phẩm mới theo kiểu chiến lược “ Gối Đầu” các chu kỳ sống của sản phẩm nếu thấy hàng hóa bị ứ động nhiều dù đã cải tiến sản phẩm, giảm giá bán, tăng cường quảng cáo, dịch vụ…
Giai đoạn này thể hiện sự cạnh tranh rõ nét nhất. Tổng mức cầu cho sản phẩm lúc này sụt giảm rõ rệt, có lẽ vì sự xuất hiện của các sản phẩm thay thế hoặc vì sự bão hòa của thị trường. Dù bất cứ trường hợp nào, công ty cũng có thể thấy tình trạng doanh số bán theo đơn vị sản phẩm tiếp tục giảm. Một số công ty buộc phải từ bỏ hoàn toàn công việc kinh doanh, một số khác cố gắng giành giật công việc kinh doanh từ các đối thủ. Mọi người đang cố giành lợi nhuận càng nhiều càng tốt từ một thị trường đang thu nhỏ. Các chiến thuật về giá ở giai đoạn này bao gồm:
+ Giảm giá, nhưng làm việc thêm giờ để giảm chi phí sản xuất. Thành công trong việc giảm chi phí sản xuất sẽ duy trì được tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu khá tốt.
+ Tăng giá trên một số ít đơn vị sản phẩm còn lại trong kho hàng tồn. Điều này có vẻ giống như một cách xua đuổi khách hàng, nhưng có thể còn một số ít khách hàng vẫn trông cậy vào những sản phẩm đó. Điều này đặc biệt đúng đối với các phụ tùng thay thế. Ở đây, người bán hy vọng rằng giá cao hơn sẽ bù đắp cho lượng mua hàng ít hơn. Khi hết hàng tồn, dòng sản phẩm đó chấm dứt.
Định giá là một trong những điểm chính yếu của chiến lược và sự thành công của công tác marketing. Công ty đang ra quyết định về giá như thế nào? Những quyết định này có phù hợp với giai đoạn hiện tại trong vòng đời sản phẩm không? Phương pháp định giá đáng tin cậy nhất là thấu hiểu những đánh giá của khách hàng, vì việc họ đánh giá sản phẩm của công ty như thế nào so với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh và sản phẩm thay thế có ý nghĩa quan trọng hơn bất kỳ điều gì khác.
Đọc tiếp »

Marketing trực tiếp (Direct Marketing)

Marketing trực tiếp (Direct Marketing) là việc sử  dụng điện thoại, thư  điện tử  và những công cụ tiếp xúc khác (không phải là người) để giao tiếp và dẫn dụ một đáp ứng từ  những khách hàng riêng biệt hoặc tiềm năng.
Hầu hết các công ty chủ yếu  dựa vào quảng cáo, khuyến mãi và bán hàng cá nhân. Họ sử  dụng quảng cáo, quan hệ công chúng để tạo nhận thức, quan tâm và sự  ưa thích, khuyến mãi để kích thích mua và bán hàng cá nhân để tiếp cận bán. Marketing trực tiếp là để dẫn đến bán hàng trực tiếp không qua trung gian.
1. Lợi ích của Marketing trực tiếp (direct marketing)
Hiện nay, do sự phát triển của các phương tiện thông tin liên lạc, các doanh nghiệp có thể sử  dụng nhiều cách thức để giao dịch trực tiếp với khách hàng. Các nhà sản xuất, nhà bán lẻ, công ty dịch vụ, công ty bán hàng qua catalog, và cả các tổ chức phi lợi nhuận đều sử  dụng Marketing trực tiếp (Direct Marketing).
Marketing trực tiếp mang đến nhiều lợi ích cho người tiêu thụ. Những người đặt hàng qua kênh thư  điện tử  cho rằng mua hàng qua thư  điện tử thì vui, tiện lợi, và không bị quấy rối (phiền nhiễu). Cách thức này tiết kiệm thời gian. Họ có thể lựa chọn tại nhà qua những catalog giới thiệu về hàng hóa và những cách sống mới. Họ có thể nhận quà mà không cần rời nhà. Những khách hàng công nghiệp cũng có nhiều thuận lợi. Họ có thể hiểu biết nhiều sản phẩm và dịch vụ mà không cần tốn thời gian gặp nhân viên bán hàng.
Marketing trực tiếp đã cung cấp lợi ích cho người bán:
  • Cách thức này có thể lựa chọn nhiều khách hàng tiềm năng tốt hơn.
  • Thông điệp bán được cá nhân hóa và khách hàng hóa.
  • Marketing trực tiếp có thể xây dựng những quan hệ liên tục với mỗi khách hàng.
  • Có thể đến với khách hàng tiếm năng vào những thời điểm thích hợp và được tiếp nhận nhiều hơn.
  • Qua Marketing trực tiếp có thể thử  nghiệm những thay đổi về cách quảng cáo, tiêu đề, giá, lợi ích,…
  • Đối thủ cạnh tranh không xem được những chiến lược của công ty dành riêng cho khách hàng.
  • Đánh giá được hiệu quả vì có thể đo lường phản ứng của khách hàng.
2. Mục tiêu của Marketing trực tiếp (Direct Marketing)
Mục tiêu của Marketing trực tiếp (Direct Marketing) muốn đạt được là làm khách hàng tiềm năng mua ngay. Sự  thành công của một chiến dịch thể hiện qua tỉ lệ đáp ứng (response rate).
Ngoài ra, Marketing trực tiếp (Direct Marketing) còn có những mục tiêu sau:
  • Tác động đến nhận thức và dự định mua sau đó của khách hàng.
  • Tạo cơ hội cho nhân viên bán hàng.
  • Gữi những thông điệp nhấn mạnh đến hình ảnh và sự ưa thích công ty.
  • Thông tin và hướng dẫn khách hàng để chuẩn bị cho lần mua sau.
3. Một số hình thức của Marketing trực tiếp (Direct Marketing):
  • Marketing qua catalog (Catalog marketing): nhiều công ty dùng hình thức bán hàng qua thư điện tử  sau khi họ phát hành ra catalog. Nội dung của Catalog có thể bổ sung thông tin chi tiết về đặc trưng của Catalog, về sản phẩm, bộ sưu tập hàng mẫu, số hotline để giải đáp thắc mắc, quà tặng, giảm giá…
  • Marketing qua thư trực tiếp (Direct_Mail Marketing): trong đó có thư, mẫu quảng cáo nhỏ, phim, số điện thoại miễn phí…
  • Marketing tư xa qua điện thoại (TeleMarketing): là một công cụ quan trọng trong Marketing trực tiếp (direct marketing) và đang được sử dụng ngày càng nhiều. Khách hàng dùng điện thoại và gọi số điên thoại miễn phí để đặt mua hàng.
  • Marketing trực tiếp trên các kênh truyền hình, truyền thanh, báo chí và tạp chí.
  • Marketing tận nhà (Door to Door Leaflet Marketing) đây là hình thức Marketing được sử dụng nhiều trong ngành thực phẩm tiêu dùng (Fast Food Industries). Hình thức này tập trung hoàn toàn theo vùng.
  • Quảng cáo có hồi đáp (Direct response television marketing) có hai hình là thức hợp đồng dài hạn (long form) và hợp đồng ngắn hạn (short form) Long form là hình thức sử dụng một khoản thời gian dài (khoản 30 phút) để mô tả sản phẩm thật chi tiết và short form sử dụng khoản thời gian quảng cáo ngắn (30 giây hay 1 phút) để hỏi những phản hồi của khách hàng tức khắc bằng cách gọi điện thoại hiện trên màn hình hoặc vào Website.
  • Phiếu thưởng hiện vật (Couponing) là hình thức sử dụng các pương tiện truyền thông được in ra để lấy thông tin phản hồi từ người đọc bằng những phiếu giảm giá cắt ra để đổi lấy tiền chiết khấu
  • Bán hàng trực tiếp (Direct selling) là hình thức bán hàng đối mặt (Face to face) với khách hàng thông qua các nhân viên bán hàng.
4. Các yếu tố quyết định sự thành công của marketing trực tiếp (Direct Marketing):
Trong tiếp thị kiểu tuyền thống, ta thường nói đến Marketing hỗn hợp bao gồm 4P đó là: sản phẩm (Product), giá cả (Price), phân phối (Place) và xúc tiến (Promotion). Đối với tiếp thị trực tiếp, tương tự sẽ có 6 yếu tố quan trọng sau:
Cơ sở dữ liệu (Database)
Điều cần nhớ đầu tiên là cơ sở dữ liệu khách hàng phải dựa trên cơ sở “con người” chứ không phải trên cơ sở “công ty” hay là “thương vụ”. Phải lập dữ liệu trên cơ sở “con người” vì đó là đối tượng mà bạn “giao lưu”, “thuyết phục”, “lấy cảm tình”, xây dựng lòng trung thành…
Nói về “con người”, những thông tin bạn cần sẽ nằm trong 4 nhóm dưới đây:
  • Thông tin cá nhân: họ, tên, tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, số con, nghề nghiệp, chức vụ trong công ty.
  • Thông tin địa chỉ: số nhà, tên đường, quận, thành phố, địa chỉ công ty, số điện thoại, số fax, địa chỉ mail.
  •  Thông tin tài chính: mức thu nhập, khả năng thanh toán, số tài khoản, uy tín trong công việc trả tiền, số lần đặt hàng và số lần trả tiền mua hàng,…
  • Thông tin hoạt động: thói quen mua sắm, những lần tiếp xúc với bạn, các lần khiếu nại, các trường hợp khiếu nại đã được xử lý như thế nào,…
Lời chào hàng (Offer)
Là lời đề nghị bạn đưa ra đối với khách hàng tiềm năng. Lời chào hàng bao gồm chi tiết về sản phẩm hoặc loại dịch vụ, giá bán, các ưu đãi đặc biệt, những lợi ích mang lại cho người tiêu dùng,…Nói cách khác, chào hàng là nội dung chính của những gì bạn đề nghị và tin rằng nó đáp ứng được những gì khách hàng cần, khách hàng muốn. Ví dụ “cơ hội để du lịch 5 nước Châu Âu trong 15 ngày đêm chỉ với 2.000 USD”
Sáng tạo (Creative)
Nếu nói lời chào hàng là nội dung của những gì bạn đề nghị với khách hàng, thì sáng tạo (creative) là hình thức của lời chào hàng đó, nó bao gồm cách trình bày, hình ảnh, lời văn, kỹ thuật in ấn.
Phương tiện truyền thông (Media)
Nếu như trong Marketing truyền thống phương tiện truyền thông được dùng chủ yếu là báo chí, radio, TV thì trong tiếp thị trực tiếp thì phương tiện truyền thông chủ yếu được dùng là gửi thư trực tiếp, gọi điện thoại, và với công nghệ thông tin bây giờ thì còn có email, và internet…
Tổ chức thực hiện (Organizing)
Nói về tổ chức thực hiện là nói về các công việc phải làm, trình tự tiến hành và tính toán tiến độ thời gian sao cho mọi việc diễn ra êm xuôi, đúng kế hoạch. So với tiếp thị kiểu truyền thống thì người làm tiếp thị trực tiếp có phần thuận lợi hơn trong việc kiểm soát nội dung và thời gian: bạn muốn gửi 1 tờ hay 10 tờ, muốn gửi ngày đầu tháng hay cuối tháng cũng được, v.v… Điều này không dễ dàng khi bạn muốn  đăng trên báo hoặc TV, vì còn phụ thuộc lịch trình của tờ báo hoặc đài truyền hình.
Tổ chức thực hiện (Organizing)
Muốn làm tiếp thị trực tiếp thành công thì gửi đúng người là yếu tố quan trọng nhất, sau đó mức hấp dẫn của lời chào hàng đứng nhì, rồi mới đến sự sáng tạo và yếu tố thời gian. Mọi lời đề nghị hấp dẫn, trình bày độc đáo đều vô nghĩa nếu bạn gửi đến địa chỉ sai. Mọi ý tưởng Marketing tuyệt vời sẽ là vô nghĩa nếu không biến thành hành động, cho nên công việc tổ chức thực hiện là thiết yếu để đưa các chương trình tiếp thị trực tiếp đến thành công.
Dịch vụ khách hàng (Customer Service) và Call center 
Mọi nỗ lực, cố gắng của doanh nghiệp là để đạt mục tiêu cuối cùng là khách hàng đồng ý đặt hàng, bỏ tiền ra mua hàng hoá hoặc dịch vụ của doanh nghiệp. Nếu như lúc khách hàng gọi đến công ty bạn không có người bốc máy, hoặc cách trả lời không nhiệt tình, hoặc hàng hoá không còn đủ để giao, hoặc giao hàng chậm trễ, các thanh toán nhiêu khê phiền phức, thì công sức của bạn đã làm cho tiếp thị trực tiếp có thể đổ sông, đổ biển. Tất cả những điều vừa nêu nằm trong khái niệm gọi là “dịch vụ khách hàng”.
Để có thể phục vụ khách hàng tốt các công ty phải biết tiên liệu, dự kiến trước những trục trặc có thể xảy ra để có biện pháp phòng tránh trước. Địa chỉ có thể bị lỗi do đánh máy sai, đường dây điện thoại có thể bận, bao bì có thể bị rách làm thất thoát hàng hoá, tất cả những sơ suất đó đều có thể gây ra sự bực mình ở khách hàng, đặc biệt nếu đối tượng khách hàng là cao cấp hoặc hàng hoá là loại đắt tiền. Tiền bỏ ra để làm tốt dịch vụ khách hàng phải được xem là đầu ta chứ không phải là chi phí. Có thể nói chi tiêu cho dịch vụ khách hàng là đầu tư mang lại lợi ích lâu bền nhất cho mọi thương hiệu, mọi công ty.
Chính vì thế trong mỗi chương trình tiếp thị trực tiếp luôn luôn gắn liền với một số điện thoại. Chúng ta có thể gọi đó là đường dây nóng, đường dây tư vấn khách hàng, đường dây hỗ trợ, vv… Nếu công ty lớn như công ty bảo hiểm nhân thọ chẳng hạn, thì có thể có hàng chục, đến hàng trăm điện thoại viên, luôn luôn trực 24/24 để sẵn sàng giải đáp, hướng dẫn hoặc gọi đi để nhắc nhở chăm sóc. Hệ thống như vậy giới chuyên môn gọi là “Call center”.
Đọc tiếp »

Bán hàng cá nhân (personal selling )

Bán hàng cá nhân (personal selling ) là sự giao tiếp mặt đối mặt của nhân viên bán hàng với khách hàng tiềm năng để trình bày,giới thiệu và bán sản phẩm.
Bán hàng cá nhân (personal selling ) tạo sự chú ý của mỗi khách hàng và chuyển tải nhiều thông tin.Giữa người bán và người mua có một sự tương tác linh hoạt ,thích ứng cho những yêu cầu riêng biệt của khách hàng và có thể dẫn đến hành vi mua hàng.Đây là những việc mà quảng cáo không thể làm được.Nhân viên bán hàng cũng có thể thuyết phục và giải quyết thắc mắc của khách hàng .Ngoài ra, bán hàng cá nhân (personal selling ) có thể thiết lập và phát triển những mối quan hệ bán hàng.
Tuy nhiên ,trong thực tế,đối với người tiêu dùng cuối cùng, bán hàng cá nhân (personal selling ) có một hình ảnh xấu.Hoạt động này bị cho là thiếu trung thực và dùng nhiều kỹ thuật thúc ép khánh hàng.
1. Mục tiêu của bán hàng cá nhân (personal selling )
Những mục tiêu của Bán hàng cá nhân (personal selling ) có thể theo hướng tạo nhu cầu hay theo hướng xây dựng hình ảnh.Mặc dù nhiều công ty quan tâm đến việc thông tin,nhắc nhở và xây dựng hình ảnh nhưng mục tiêu chủ yếu vẫn là hướng dẫn khách hàng đến với sản phẩm.
Các mục tiêu của Bán hàng cá nhân (personal selling ) được trình bày theo hình sau:
2. Vai trò chức năng của bán hàng cá nhân (personal selling ):
  • Bán hàng cá nhân cho nhà marketing một sự truyền thông uyển chuyển, linh hoạt.
  • Bán hàng cá nhân cũng ghi nhận nhiều thông tin phản hồi chính xác
  • Đánh giá hiệu quả việc chào hàng qua phản ứng khách hàng
  • Nhằm  quảng bá, giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp tới người tiêu dùng.
  • Giải đáp thắc mắc của khách hàng về sản phẩm từ đó đánh giá lại sản phẩm để có các phương pháp cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm.
3. Thuận lợi và khó khăn trong  bán hàng cá nhân (personal selling ):
Thuận lợi:
  • Có nhiều cách để tác động đến khách hàng tiềm năng
  • Thông điệp được thiết kế phù hợp với người nhận
  • Khách hàng tiềm năng không bị phân tâm
  • Người bán hàng  ảnh hưởng đến quyết định mua hàng
  • Nguồn thông tin nguyên cứu
Khó khăn:
  • Thông điệp có thể bị nhiễu
  • Có thể quản lý  xung đột đội ngũ bán hàng
  • Chi phí cực kì cao
  • Tầm với có thể bị giới hạn
  • Tiềm ẩn vấn đề đạo đức
4. Các hình thức bán hàng cá nhân (personal selling):
a. Là nhân viên chính thức cho một công ty:
Ưu điểm:
  • Kiểm soát tốt
  • Hiểu biết về kiến thức sản phẩm cao
  • Chăm sóc khách hàng tốt hơn
Nhược điểm:
  • Chi phí cao
  • Thời gian huấn luyện
  • Chịu những chi phí bảo hiểm, trợ cấp…
b. Bán hàng cho nhiều doanh nghiệp
Ưu điểm:
  • Chi phí thấp
  • Không cần huấn luyện…
  • Nới  rộng được thị trường
  • Có nhiều mối quan hệ mới
Nhược điểm:
  •  Không tập trung vào một sản phẩm
  •   Không thể kiểm soát, quản lý….
c. Các loại bán hàng cá nhân khác
  • Bán  hàng  tại văn phòng  (Inside saleperson)
  • Bán hàng tại hiện trường (Field representative)
  • Quản lý  khách hàng ( Account manager)
  • Bán hàng theo chiều dọc (Vertical market Rep)
  • Nhân viên bán lẻ (Retail sales Rep )
  • Tư vấn ( Missionany saleperson )
  • Bán hàng cho kênh phân phối (Trade Rep )
Đọc tiếp »

Marketing dịch vụ

Marketing dịch vụ là gì? Dịch vụ là gì?…Dưới đây là giới thiệu sơ lược về marketing dịch vụ và dịch vụ… Ngoài ra còn có những ebook, tài liệu đính kèm để giúp  hiểu rõ hơn về Marketing dịch vụ.
 1. Dịch vụ là gì?
Là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có  thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất. dịch vụ có 4 đặc điểm quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến việc thiết kế các chương trình marketing:
  • Tính vô hình
  • Tính đồng thời
  • Tính không thể lưu trữ
  • Tính không ổn định
2. Marketing dịch vụ là gì?
Marketing dịch vụ được phát triển trên cơ sở thừa kế những kết quả của Marketing hàng hóa. Tuy nhiên, do những đặc điểm riêng của dịch vụ, hệ thống Marketing Mix cho hàng hóa không hoàn toàn phù hợp với các tổ chức cung ứng dịch vụ. “Tiếp thị trong thế kỷ 21 không còn bó hẹp trong công thức 4P truyền thống nữa mà đã và đang mở rộng ra thêm 3P thành Công thức 7P. Những nỗ lực tiếp thị sẽ được tiếp thêm nhiều năng lực và đánh bại các đối thủ cạnh tranh với công thức mới này. Một khi doanh nghiệp đã xây dựng xong chiến lược tiếp thị, công thức 7P nên được sử dụng để liên tục đánh giá và tái đánh giá các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”.
  • Product ( Sản phẩm ) Sản phẩm là những cái gì có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Hàng hoá là sản phẩm có thể đưa vào thị trường để tạo ra sự mua bán. Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được lợi nhuận thỏa đáng nếu đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Sản phẩm là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của hệ thống Marketing – mix. Chất lượng của sản phẩm được đo lường giữa chất lượng khách hàng kì vọng và chất lượng khách hàng mong đợi. Nếu chất lượng thực tế của sản phẩm không như mong đợi thì khách hàng sẽ cảm thấy thất vọng. Ngược lại, khi chất lượng thực tế của sản phẩm đáp ứng như mong đợi hoặc vượt quá sự mong đợi thì khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng và hoan hỉ, vui vẻ. Chất lượng thật sự của hàng hoá do nhà sản xuất cung cấp thường khác với chất lượng khách hàng cảm nhận được. Chất lượng mà khách hàng cảm nhận mới là quan trọng. Chính vì thế doanh nghiệp cần phải có một chính sách sản phẩm hợp lý. Chính sách sản phẩm này đòi hỏi phải thông qua những quyết định phù hợp với nhau về từng đơn vị hàng hoá, chủng loại hàng hoá và danh mục hàng hoá
  • Price ( Giá ) Giá cả là những gì mang lại doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đồng thời, giá tạo ra chi phí cho khách hàng, là những gì họ “trả” để có được sản phẩm với tính năng và nhãn hiệu cụ thể. Doanh nghiệp phát triển thói quen thường xuyên xem xét và xem xét lại các mức giá của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung cấp để đảm bảo rằng nó luôn phù hợp với thực tế của thị trường hiện tại. Bằng việc nâng giá, các doanh nghiệp có thể đánh mất một số lượng khách hàng, nhưng tỷ lệ phần trăm (%) khách hàng còn lại có thể sẽ phát sinh lợi nhuận trên từng giao dịch bán hàng. Do đó để xây dựng chính sách giá cả các doanh nghiệp cần phải lưu ý: Chi phí nào doanh nghiệp phải chịu với mức giá mà thị trường chấp nhận có lãi; sản phẩm mang nhãn hiệu của doanh nghiệp mình đáng giá bao nhiêu và làm sao truyền được giá trị này cho khách hàng; mức doanh thu hay thị phần nào, sản phẩm có thể đạt được, để thu lợi nhuận tối đa.
  • Promotion ( Xúc tiến ) Xúc tiến bao gồm tất cả các cách thức mà doanh nghiệp có thể nói với khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp và làm thế nào doanh nghiệp có thể tiếp thị và bán chúng. Những thay đổi nhỏ trong cách thức mà doanh nghiệp xúc tiến và bán sản phẩm, dịch vụ có thể dẫn tới những thay đổi lớn trong kết quả kinh doanh. Thậm chí cả những thay đổi nhỏ trong quảng cáo cũng có thể dẫn ngay tới doanh số bán hàng cao hơn. Doanh nghiệp cần phải linh hoạt hơn trong công tác xúc tiến của mình. Ngay khi phương pháp bán hàng và tiếp thị hiện tại không còn phù hợp nữa doanh nghiệp cần phải xây dựng những chiến lược, chào mời và phương pháp tiếp thị, bán hàng và quảng cáo mới.
  • Place ( Kênh phân phối ) Chữ P thứ tư trong Công thức tiếp thị 7P đó là địa điểm nơi doanh nghiệp thực tế bán các sản phẩm hay dịch vụ. Việc lựa chọn địa điểm hoặc kênh phân phối phù hợp sẽ ảnh hưởng tới kết quả tăng trưởng doanh số bán hàng mạnh mẽ. Bên cạnh đó việc lựa chọn địa điểm bán hàng tốt sẽ giúp cho khách hàng nắm rõ những thông tin thiết yếu về sản phẩm hoặc dịch vụ cần thiết cho những quyết định sử dụng của khách hàng.
  • Process ( Cung ứng dịch vụ ) Do tính đồng thời trong quá trình cung ứng dịch vụ, chất lượng của sản phẩm dịch vụ được đảm bảo chủ yếu thông qua một quy trình cung ứng rõ ràng, chuẩn xác. Loại trừ được những sai sót từ cả hai phía. Một quy trình hiệu quả cũng hạn chế được đặc điểm không đồng nhất trong quá trình cung ứng dịch vụ.
  • Physical evidence ( Điều kiện vật chất ) Môi trường vật chất của công ty cung ứng dịch vụ là nơi dịch vụ được tạo ra, nơi khách hàng và người cung ứng dịch vụ giao tiếp, thêm vào đó là những phần tử hữu hình được sử dụng để hỗ trợ vai trò của dịch vụ. Do đặc trưng của dịch vụ là vô hình cho nên trong kinh doanh dịch vụ các nhà Marketing phải cố gắng cung cấp các đầu mối vật chất để hỗ trợ vị trí và tăng cường cho dịch vụ bao quanh nhằm làm giảm bớt tính vô hình của dịch vụ. Do vậy có thể khẳng định bằng chứng vật chất của công ty cung ứng dịch vụ là hết sức quan trọng. Nó giúp cho việc tạo ra vị thế của công ty và trợ giúp hữu hình cho dịch vụ. Chính vì vậy mà các ngân hàng  đã phải chi ra những khoản tiền lớn để tạo ra kiểu dáng kiến trúc các trang trí nội thất, trang bị đồng phục cho nhân viên…nhằm gây ấn tượng về tiếng tăm, uy tín vị thế của mình.
  • People ( Con người ) Con người là nhân tố giữ vị trí quan trọng trong Marketing dịch vụ và nó là nhân tố chính tạo ra dịch vụ và quyết định tới chất lượng dịch vụ cung ứng. Bởi vì con người là nhân tố không thể thiếu tham gia vào quy trình cung ứng dịch vụ của công ty. Do vậy chất lượng dịch vụ cũng như sự thành công của một công ty, Marketing dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào việc tuyển chọn đào tạo con người. Chính vì thế khả năng lựa chọn, tuyển dụng và giữ chân những con người thích hợp với những năng lực và kỹ năng tốt để hoàn thành công việc được giao phó là rất quan trọng.

Download tài liệu tại đây: Tài liệu Marketing dịch vụ

Đọc tiếp »